Cơn hấp hối của rừng

0
308

Khi “dân núi” trở về nhà, việc đầu tiên là hít hà hơi thở của rừng. Đặc biệt khi dòng chảy trong huyết quản của bạn là người dân tộc thiểu số, bạn sẽ thấy rừng có ý nghĩa như thế nào. Nhưng thật đau lòng, khi thời gian dần trôi, khi sự trưởng thành của bạn tỷ lệ nghịch với sự phát triển của rừng, khi bạn nhìn thấy cái hình ảnh của một cây Kơ-Nia già hơn tuổi đời của bạn lặng lẽ đứng bên một cây cột thu phát sóng của một nhà đài nào đó, thì cũng là lúc bạn nhận ra rằng, cánh rừng tuổi thơ của bạn ngày nào đã không còn nữa. 

Đây là khu rừng gắn liền với tuổi thơ Kim, nó đã từng rất xanh mướt với hệ động thực vật phong phú, là nơi Kim thường lên để hái củi, hái măng, hái nấm, chăn bò hoặc lên rẫy cùng Ba Mẹ và hai anh trai. Là nơi Kim cùng với chú chó nhỏ tên Sao dũng cảm băng rừng để lên rẫy tìm Ba trong một buổi chiều muộn. Kim khi ấy khoảng chừng 10 tuổi, mặc một cái váy thun trắng điểm vài bông hoa dại nhỏ xíu, li ti phủ đầy chân váy. Chú chó Sao với bộ lông vàng dày quấn quít trên mỗi bước chân vào rừng cùng Kim, khi thì lon ton chạy trước như người dẫn đường dày dặn kinh nghiệm, khi thì lũn cũn theo sau như người bảo vệ “hậu phương” cho cô chủ.

Quãng đường mòn lên rẫy chỉ khoảng 4km nhưng với địa hình đồi núi và rừng cây dày đặc thì cũng khá là vất vả với cô gái nhỏ nhưng có hề chi, hai tâm hồn trong sáng ấy đã đặt niềm tin vào rừng một cách trọn vẹn bởi rừng khi ấy hiền lắm, chả bao giờ nghe điều gì “xấu xa” về rừng cả. Càng đi sâu vào rừng thì rừng càng âm u ẩm ướt. Nào là cây Kơ-nia, cây trâm, cây dẻ hiên ngang vươn tán phủ rộng xuống thảm cỏ dại và rừng cây lá thấp, quấn quít đan vào nhau nào là dây leo, dây gai, cỏ dại mọc xen trong rừng le lá xanh mướt và mỏng dính như tờ giấy. Khoảng 1km dọc con đường mòn, một bên là thung lũng, còn một bên là mảng tường cây. Thung lũng sâu với dòng suối trong mát trong khi thì róc rách như lời tỉ tê, khi thì ầm ầm như kẻ thống trị vang vọng cả một khoảng rừng nếu nơi ấy là dòng thác. Dưới chân thung lũng là thảm xanh với đủ loại cỏ dại và hoa mai, hoa lan, hoa mua rừng cùng hiền hòa khoe sắc, rồi rừng cây nứa thi nhau mọc bám vào đất để mong vươn mình ra khỏi thung lũng. Thỉnh thoảng lạc vào vài chỗ thoáng đãng hơn, có nắng mặt trời và thảm cỏ khô trải mềm xung quanh những gốc cây già chỉ còn trơ ra vài chỗ mục rỗng.

Có lần lên rừng với Ba, Kim nhìn thấy 1 quả màu đỏ trên nền cỏ khô, vội nhặt lên thì bị dính ngay bẫy chuột vào ngón tay cái đau điếng. Ba cứ nhắc hoài nhắc mãi câu chuyện ấy với vẻ mặt sáng bừng không chút trêu ghẹo. Kỷ niệm với rừng thì quá nhiều, thời gian tuy có bào mòn đi chút đỉnh và càng “già” thì con người ta thường có xu hướng quay trở về nguồn cội nhưng khi quay trở vè rồi lại thấy cái ngày xưa ấy dường như đã quá xa xôi. Giờ đây rừng thực sự đã biến mất, hay nói theo một cách khác, rừng đang trong cơn hấp hối dài với từng hơi thở khô khốc, đứt quãng và đầy đớn đau. 

Người dân tộc thiểu số với tập tính đốt rẫy làm nương bao đời nay vẫn vậy, tuy họ đã thay đổi về nhận thức khá nhiều do được Đảng và Nhà nước tuyên truyền và tạo điều kiện định canh định cư xây dựng một cuộc sống “tại chỗ” với nhiều kế hoạch làm ăn nhằm giữ chân những “người du mục”. Và cũng thật đáng mừng là họ đã phần nào thấm nhuần định hướng ấy nhưng hệ quả của những lần du canh du cư là từng mảng rừng bị đốt trơ trọi, phải mất hàng chục, hàng trăm năm sau mới có thể khôi phục lại nguyên trạng rừng như nó vốn có. Thêm nữa, sự tác oai tác quái của lâm tặc được “chấp cánh” bởi những kẻ kiểm lâm biến chất mới thực sự khiến rừng bị tổn thương và có thể vĩnh viễn không thể phục hồi.

Còn nhớ cơn bão số 9 lớn nhất tại Kon Tum vào năm 2009 đã phần nào lột tả được hết sự tàn khốc của việc phá rừng. Bão đã đi qua, để lại hàng đống đổ nát trên con đường bão quét và trong đống đổ nát ấy là hàng trăm khúc gỗ lớn được cắt gọt đẹp đẽ trôi trên dòng lũ, vướng vào rặng cây hoặc cắm chỏng chơ trên bùn lầy, đủ để thấy rằng, đấy là những miếng gỗ bị khai thác trái phép, giấu sâu trong rừng chờ ngày được chở đi. Dọc trên khắp các con đường tại phố núi là xơ xác cỏ hoa, nhìn lên phía xa xa những ngọn đồi là từng mảng vá chằng chịt, những vết thương chưa kịp lên da non mà đã vội hóa thành hoang. 

Hôm nay, Kim lại được bước chân vào khu rừng yêu dấu của mình. Từ nhà Kim nhìn lên ngọn đồi trơ trọi ấy là bóng dáng của một trong những cây Kơ-Nia còn sót lại, bên cạnh là cột thu phát sóng cao lêu nghêu chễm chệ in bóng trên nền trời. Kim thấy buồn và cứ khấn nguyện thầm rằng, xin Trời, xin Rừng thiêng hãy bào vệ cây Kơ-Nia ấy, bởi nếu nó bị chặt đi thì một phần Tây Nguyên sẽ theo đó mà chết đi. Kim thấy mình bất lực, hoặc có thể là “hèn” vì không biết phải lên tiếng bằng cách nào. Hôm nay Kim về rừng, ve vuốt theo từng cơn hấp hối ấy của rừng là cái ôm, cái nín lặng thật lâu bên cây Kơ-Nia, thầm cầu mong sự tái sinh đầy màu nhiệm của cánh rừng thơ ấu. 

“Buổi sáng em làm rẫy.
Thấy bóng cây Kơ-nia.
Bóng ngả che ngực em.
Về nhớ anh không ngủ.
Buổi chiều mẹ lên rẫy.
Thấy bóng cây Kơ-nia.
Bóng tròn che lưng mẹ.
Về nhớ anh mẹ khóc.
Em hỏi cây Kơ-nia.
Gió mày thổi về đâu.
Em hỏi cây Kơ-nia.
Gió mày thổi về đâu.
Về phương mặt trời mọc.
Mẹ hỏi cây Kơ-nia.
Rễ mày uống nước đâu.
Uống nước nguồn miền Bắc.
Con giun sống nhớ đất.
Chim phí sống nhớ rừng.
Em và mẹ nhớ anh.
Uống theo nguồn miền Bắc.
Như bóng cây Kơ-nia.
Như gió cây Kơ-nia Như bóng cây Kơ-nia.
Như gió cây Kơ-nia.
Ơ… Như bóng cây Kơ-nia.
Như gió cây Kơ-nia”.

Kim.

Kon Rẫy, Kon Tum, ngày 23/02/2018.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here